Cuộc đời cách mạng của đồng chí Hà Huy Tập là biểu tượng cao đẹp của một trí thức trẻ yêu nước đã sớm nhận ra lý tưởng vô sản và con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Các đồng chí có tư duy lý luận nhạy bén, lòng dũng cảm không ngừng, khí chất cộng sản chân chính, đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Các bạn đã ngã xuống khi còn rất trẻ nhưng cuộc sống và tinh thần bất tử của các bạn sẽ mãi là ngọn lửa soi đường cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Nhà lãnh đạo cách mạng tài ba
Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906 tại thôn Kim Nặc, huyện Thổ Ngoa, nay là xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh, là con thứ ba trong một gia đình Nho giáo yêu nước. Sinh ra và lớn lên ở một đất nước có truyền thống yêu nước và cách mạng, phải đối mặt với tình trạng đất nước bị nô dịch bởi ngoại bang và nhân dân khốn khổ, khốn khổ, Hà Huy Tập đã sớm giác ngộ và dấn thân vào con đường cách mạng đầy khó khăn, thử thách để giải phóng đất nước, con người khỏi xiềng xích nô lệ.
![]() |
| Đồng chí Hà Huy Tập. |
Năm 1923, ông tốt nghiệp trung học loại xuất sắc nhưng vì không đủ điều kiện tiếp tục học nên Hà Huy Tập trở thành giáo viên tại trường tiểu học Pháp-Việt ở Nha Trang. Trong thời gian này, thầy Hà Huy Tập đã đọc nhiều sách báo, nhìn thấy nỗi đau khổ của nhân dân ta dưới xiềng xích của thực dân Pháp và luôn trăn trở làm cách nào để đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương. Tháng 8 năm 1926, Hà Huy Tập về Nghệ An giảng dạy tích cực tham gia các hoạt động của Hội Phúc Việt nhằm truyền bá tư tưởng chống độc tài, chống thực dân Pháp, từ đó mở rộng cơ sở hội trong công nhân, thanh niên, sinh viên và nông dân.
Cuối tháng 12/1928, Hà Huy Tập cùng một số đồng chí được cử sang Quảng Châu, Trung Quốc bàn việc sáp nhập Đảng Cách mạng Tân Việt vào Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Từ tháng 7 năm 1929 đến tháng 4 năm 1932 ông được cử đi học tại Đại học Phương Đông ở Mátxcơva (Liên Xô cũ).
Sau cuộc nổi dậy Nghệ-Tĩnh của Liên Xô (1930–1931), thực dân Pháp ra sức khủng bố và đàn áp phong trào cách mạng Việt Nam. Nhiều tổ chức đảng cơ sở trong nước bị tan vỡ. Tháng 4 năm 1933, nhằm khôi phục tổ chức Đảng sau thời kỳ bị địch khủng bố trắng, Quốc tế Cộng sản cử đồng chí Hà Huy Tập về nước hoạt động cách mạng qua Trung Quốc. Khoảng tháng 6 năm 1933, đồng chí Hà Huy Tập về Trung Quốc tham gia hoạt động cách mạng và tham gia Ban Chỉ huy đối ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương; Tiến hành công tác chuẩn bị và tổ chức Đại hội Đảng lần thứ nhất, ngày 27-31/3/1935 tại Ma Cao, Trung Quốc. Đại hội đã thông qua báo cáo chính trị của đồng chí Hà Huy Tập và nhiều văn kiện quan trọng khác của đảng. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương và Ban Thường vụ do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư (Tổng Bí thư). Đồng chí Hà Huy Tập được Quốc tế Cộng sản bổ nhiệm làm Bí thư Ban Chỉ huy Đối ngoại của Đảng. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn, đánh dấu việc khôi phục tổ chức Đảng ta, khôi phục các cơ quan lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở, giữ vững và treo cao lá cờ của Đảng với tư cách là người lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.
Tại Hội nghị Trung ương Đảng (26/7/1936), đồng chí Hà Huy Tập được phân công về nước để chấn chỉnh Trung ương, khôi phục tổ chức Đảng. Từ tháng 7 năm 1936 đến tháng 3 năm 1938, ông tham gia hoạt động cách mạng với tư cách là tổng bí thư đảng. Ngay sau khi về nước vào đầu tháng 8 năm 1936, Người đã sáng suốt quyết định chuyển trụ sở Đảng từ nước ngoài về thị trấn Bà Điểm, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Quyết định này có ý nghĩa quan trọng vì nó tạo điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất của Đảng từ trung ương đến cơ sở và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của phong trào cách mạng.
Tại Bà Điểm – Hóc Môn – Gia Định, Người liên tục chủ trì 3 hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và đưa ra nhiều quyết định quan trọng, trong đó: Hội nghị tháng 3/1937, thống nhất các tổ chức đảng ở Bắc Kỳ và miền Trung Kyya, đề ra chính sách mới, phát huy thành tích, khắc phục khuyết điểm, thúc đẩy phong trào đấu tranh phát triển. Hội nghị tháng 9 năm 1937 đã thông qua một số quyết định quan trọng về việc thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Đông Dương và thành lập các cơ sở đảng ở thành thị và bán công. Hội nghị tháng 3 năm 1938 phân tích thái độ của các đảng, tổ chức chính trị ở Đông Dương, công tác quần chúng, công tác tổ chức và lãnh đạo của đảng và quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương.
Trong sự lãnh đạo cách mạng của Đảng, hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3/1938 có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Các nghị quyết của Hội nghị được Ban Thường vụ chuẩn bị kỹ càng, tổng kết hoạt động của Đảng, sự phát triển của phong trào cách mạng và phát động phong trào dân chủ; Phân tích sâu sắc, toàn diện những thành công, hạn chế và đặt ra những nhiệm vụ rất cụ thể về chính sách, chủ trương, tổ chức và biện pháp thực hiện nhằm đưa phong trào lên một bước mới cao hơn, vững chắc hơn trong cuộc đấu tranh. Với nhiệm vụ của mình, Tổng Bí thư Hà Huy Tập đã có đóng góp quan trọng trong việc chuẩn bị nội dung, dự thảo nghị quyết và thông qua các nghị quyết chính thức của Hội nghị Trung ương.
Nhà lý luận sắc sảo của đảng
Qua thực hành trong phong trào cách mạng sôi động của giai cấp công nhân và của cả dân tộc, bằng trí tuệ nhạy bén, sự nhạy bén về chính trị và ngòi bút sắc bén, đồng chí Hà Huy Tập đã chứng tỏ mình là một nhà lý luận sắc sảo, có vị trí quan trọng trong lĩnh vực báo chí, xuất bản. Là người sáng lập và tổng biên tập nhiều tờ báo, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng, đồng chí Hà Huy Tập còn là người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương.
Khi học tập tại Mátxcơva, Người đã viết nhiều bài, tác phẩm về lịch sử Đảng ta những năm đầu thành lập, gồm: Lịch sử Đảng Tân Việt Cách Mạng (1929); Hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương (1931)… Đặc biệt, bằng tài năng và sự hiểu biết toàn diện của mình, Người đã hoàn thành cuốn sách “Tổng quan lịch sử phong trào Cộng sản ở Đông Dương”, trong đó ông tóm tắt thực tế cách mạng Việt Nam những năm đầu dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong giai đoạn từ 1931 đến 1936, nhiều văn kiện đảng do đồng chí Hà Huy Tập viết có giá trị tư tưởng, lý luận rất lớn. Họ đã thể hiện nhiều quan điểm căn bản đúng đắn về cách mạng Việt Nam và xây dựng Đảng chính trị Mác – Lênin, góp phần quan trọng vào việc tổ chức lại Đảng, phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân. kịp thời tuyên truyền, phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng của Đảng, chống lại những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, khơi dậy niềm tự hào, tự tin trong quần chúng cách mạng, là tài liệu tham khảo quý giá cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng hiện nay.
![]() |
| Phong trào dân chủ 1936 – 1939 ở Huế. |
Tư duy và sự nhạy bén chính trị của đồng chí Hà Huy Tập còn được thể hiện qua góc nhìn dân tộc, giai cấp của Người trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Từ cuối năm 1935, tình hình chính trị ở Pháp và Đông Dương phát triển rất nhanh, có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn. Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 26/7/1936 do các đồng chí Hà Huy Tập và Lê Hồng Phong chủ trì đã tập trung nghiên cứu kỹ các nghị quyết mới của Quốc tế Cộng sản và vận dụng vào tình hình thực tế để điều chỉnh chiến lược, chiến thuật cho phù hợp. Những vấn đề về kẻ thù cách mạng, nhiệm vụ cách mạng, khẩu hiệu cách mạng và bố trí lực lượng cách mạng ở Đông Dương được thảo luận kỹ lưỡng và kịp thời thay đổi theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Nhân dân chống đế quốc Đông Dương gồm các giai cấp, đảng phái, các tổ chức chính trị, tín ngưỡng, các tôn giáo và các dân tộc ở Đông Dương để đấu tranh cho các quyền dân chủ cơ bản; quyết định thay đổi hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh quần chúng, từ các tổ chức chủ yếu là bí mật và đấu tranh bất hợp pháp sang các tổ chức, đấu tranh quần chúng hợp pháp và bán hợp pháp. Nhờ nghị quyết của Hội nghị, phong trào đòi dân chủ và dân sinh đã lan rộng khắp Đông Dương. Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Tại hội nghị này, do thực hiện đúng đường lối chung của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Hà Huy Tập và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã điều chỉnh chiến lược, thay đổi chiến thuật nhằm đưa cách mạng Việt Nam bước sang thời đại mới và hội nhập với xu thế chung của cách mạng thế giới.
Một tấm gương về sự kiên cường, bất khả chiến bại và sẵn sàng hy sinh vì đất nước, vì nhân dân
Trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, đồng chí Hà Huy Tập, từ một trí thức yêu nước đi theo con đường cách mạng, trở thành Tổng Bí thư Đảng ở tuổi 30, đã thể hiện rõ khả năng dự đoán tình hình, nắm bắt thời cơ và tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi cùng với các cơ quan lãnh đạo của Đảng ta khi đó để đưa ra các quyết sách chính trị phù hợp; Đồng thời, Người trực tiếp chỉ đạo hoạt động của đảng, phát huy thời cơ và nâng cao tầm cao cuộc đấu tranh dân sinh, dân chủ, hòa bình và chống chiến tranh đế quốc ở nước ta từ năm 1936 đến năm 1939.
![]() |
| Họp mặt kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938 tại Nhà Đậu Đức, Hà Nội. |
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi thử thách, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng cộng sản cao đẹp, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngày 1/5/1938, đồng chí Hà Huy Tập bị thực dân Pháp bắt trên đường đi làm. Sau 10 tháng tù không có bằng chứng lật đổ, địch kết án ông 8 tháng tù và 5 năm đày, đày về quê hương. Tháng 3 năm 1940, ông bị địch bắt và giam ở Hàm Lợn, Sài Gòn. Ngày 25/3/1941, Tòa án quân sự Sài Gòn tuyên án tử hình đồng chí Hà Huy Tập. Ngày 28/8/1941, thực dân Pháp ở Hóc Môn xử tử Gia Định, đồng chí Hà Huy Tập và một số lãnh đạo đảng khác.
Với 35 năm, 16 năm hoạt động cách mạng, trong đó gần 2 năm làm Tổng Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó trong một giai đoạn lịch sử đầy thử thách, nhiều biến động phức tạp. Người là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cộng sản suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta.
ND (Theo tài liệu tuyên truyền của Ban Tuyên giáo Trung ương)



